A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

ĐÔI NÉT VỀ BÌNH DÂN HỌC VỤ - BỔ TÚC VĂN HÓA CỦA TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 (Nhân dịp 75 năm ngành học BDHV-BTVH)

Tháng 9-1945, Uỷ ban hành chính tỉnh Nghệ An ra quyết định thành lập Ban Bình dân học vụ; tháng 12-1945 được nâng lên thành Ty Bình dân học vụ

         Nha Bình dân học vụ Trung ương tiến hành mở lớp bồi dưỡng cán bộ cho các tỉnh ở Huế từ ngày15-11-1945 đến 24-11-1945. Các lớp huấn luyện ở tỉnh được mở trong tháng 12-1945.

         Bình dân học vụ đã trở thành mục tiêu trước mắt của nhân dân Nghệ An. Những khẩu hiệu mới xuất hiện: “Đi học bình dân học vụ là yêu nước”; “Dạy học bình dân học vụ là yêu nước”; “Giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nước”. Trong khoá học đầu tiên, các địa phương đã nhanh chóng vận động được nhiều thanh niên, học sinh, công chức làm giáo viên. Những người này trước đây chỉ mới học ở các lớp dự bị, sơ đẳng nhưng đã nhiệt tình ghi tên nhận dạy học và làm các việc tuyên truyền, cổ động. Nhiều giáo viên trung học, tiểu học cũng tham gia dạy bình dân học vụ. Đối với học viên, tuy có quy định ưu tiên khoá đầu cho những người từ 16 đến 45 tuổi, nhưng nhiều em dưới 16 tuổi, nhiều cụ già trên 60 tuổi cũng hăng hái đến lớp. Điều nổi bật là ở tất cả các nơi, phụ nữ đều đến học rất đông. Năm1945 mở được 3.500 lớp với 60.000 học viên; 1946 mở 4.500 lớp với 90.000 học viên. Tháng 2 năm 1946, Ty và các Ban Bình dân học vụ cấp huyện đã tổ chức kỳ thi mãn khoá.         

Trong mưa bom bão đạn, bà con xã Diễn Kỷ vẫn đi học BTVH (1967)

          Ngày 20-12-1946, Hồ Chủ tịch ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Bình dân học vụ là một mặt trận không thể thiếu. Đầu năm 1947, Ty và Ban Bình dân học vụ cấp huyện được củng cố và tăng cường. Những khẩu hiệu mới của bình dân học vụ ra đời: “Mỗi lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến”; “Đi học là kháng chiến”; “Vừa kháng chiến vừa học tập”; “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt”. Nội dung học tập được gắn với việc tuyên truyền kháng chiến. Bình dân học vụ Nghệ An được khôi phục nhanh chóng, cuối năm 1947, đầu năm 1948 đã phát triển khá.

         Ngày 10-6-1948, nhân dịp kỷ niệm “1.000 ngày kháng chiến”, Chính phủ phát động phong trào thi đua diệt giặc dốt. Lúc này, ở từng địa phương đã xuất hiện những đơn vị làng, xã thanh toán nạn mù chữ. Bình dân học vụ Nghệ An mở những chiến dịch nước rút. Ngày 19-5-1949, hội nghị thi đua thanh toán nạn mù chữ của Nghệ An được tổ chức ở Rạng ( huyện Thanh Chương), công nhận 6 huyện miền xuôi đã thanh toán nạn mù chữ. Hai 2 huyện Anh Sơn và Quỳnh Lưu gần hoàn thành. Trong thư gửi đồng bào Nghệ An tháng 8-1949, Hồ Chủ tịch viết: “Cảm ơn đồng bào đã tặng tôi món quà quý báu trong dịp sinh nhật của tôi - là thành tích thi đua 4 tháng đầu năm 1949. Sau đây, tôi có mấy lời thân ái nhắn khuyên đồng bào:… 6 huyện đã thanh toán nạn mù chữ. Thế là tốt lắm, Chính phủ sẽ gửi giấy khen. Phải giúp các huyện kia thanh toán cho xong nội trong năm nay”.

          Hè năm 1950, Ty Bình dân học vụ tổ chức một cuộc vận động lớn lấy lực lượng có văn hoá ở miền xuôi lên trợ lực phong trào xoá nạn mù chữ ở 4 huyện miền núi. Do có lực lượng này, phong trào bình dân học vụ ở 4 huyện miền núi lúc này có sự chuyển biến mạnh mẽ, cơ bản xoá nạn mù chữ cho thanh niên ở các xã Môn Sơn, Lục Dạ huyện Con Cuông; Khủn Tinh, Triệu Bình huyện Quỳ Châu; Tam Quang, Thạch Giám huyện Tương Dương; Liên Hoàn, Nghĩa Tiến huyện Nghĩa Đàn. Từ năm 1951, bình dân học vụ tiếp tục xoá nạn mù chữ và bước đầu tổ chức bổ túc văn hoá.

         Sau hòa bình, do các trường tiểu học chưa thu nhận hết trẻ em đến tuổi đi học, nên mù chữ và tái mù chữ đang là hiện tượng phổ biến. Với thực trạng đó, năm 1956, Đảng và Chính phủ đề ra nhiệm vụ cấp thiết của bình dân học vụ là khẩn trương thanh toán nạm mù chữ cho nhân dân miền Bắc. Chủ trương này gắn với kế họach ba năm phát triển kinh tế và văn hoá ở miền Bắc 1957-1960. 

Lớp BTVH của cán bộ huyện Quế Phong (1967)

          Đối tuợng xoá mù chữ lần này là những người còn mù chữ trong độ tuổi từ 12 đến 50. Trong năm đầu của kế hoạch xoá mù chữ, Nghệ An đã có những điển hình tốt: xã Diễn Liên được ghi nhận là một trong 15 xã của miền Bắc thanh toán nạn mù chữ ngay cuối năm 1956 và được tặng Huân chương Lao động. Ngày 21-12-1956, Hồ Chủ tịch đã gửi thư khen xã Diễn Liên. Ở huyện Con Cuông, phong trào bình dân học vụ cũng phát triển tốt: trong 107 xóm, đã có 105 lớp. Một số nơi vươn lên mạnh như huyện Quỳnh Lưu, đã có 33/43 xã mở được lớp.

          Tháng 6-1957, Hồ Chủ tịch về thăm Nghệ An sau 46 năm xa quê đi làm cách mạng. Trong buổi nói chuyện với hội nghị đại biểu nhân dân Nghệ An ngày 14-6, có đoạn Bác nói: “...Về bình dân học vụ, tỉnh ta cũng khá tiến bộ, như xã Diễn Liên đã xoá nạn mù chữ, được Chính phủ thưởng Huân chương. Chính phủ đang để một giải thưởng cho thành phố Vinh và mong muốn thành phố nhà ta làm sao mà lấy được giải thưởng ấy. Các đại biểu thành phố nghĩ thế nào ?”...

          Ban Lãnh đạo Thanh toán nạn mù chữ tỉnh Nghệ An do cụ Lê Nhu, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh làm Trưởng ban được thành lập. Đồng chí Nguyễn Trường Khoát, lúc bấy giờ là Bí thư Tỉnh uỷ đã họp Ban Thường vụ Tỉnh uỷ để nghe và quyết định những biện pháp khẩn cấp. Một đợt thi đua nước rút được phát động trong toàn tỉnh và công tác thanh toán nạn mù chữ lúc này được coi là một công tác “trung tâm đột xuất” của Đảng bộ.

          Kết quả, đến ngày 19-12-1958, sau đợt kiểm tra của Bộ Giáo dục, Nghệ An được công nhận là tỉnh “hoàn thành căn bản xoá bỏ nạn mù chữ cho lớp người từ 12 đến 50 tuổi ở miền xuôi và huyện Nghĩa Đàn”. Tỷ lệ biết chữ trong dân số ở độ tuổi 12-50 là 94%, đứng thứ 6 trên 21 tỉnh, thành. Năm 1957, cả tỉnh có 29.489 người được xóa mù chữ, năm 1958 được 67.307 người. Nhà nước đã tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho tỉnh; ông Nguyễn Trung Thiếp ở xã Diễn Bình được tuyên dương “Anh hùng Lao động”.

          Phong trào bổ túc văn hoá tại chức phát triển mạnh ở cơ quan, xí nghiệp. Theo thống kê, năm 1957 chưa có học viên bổ túc văn hoá cấp 2, năm 1958 có 631 học viên, năm 1959 có 1.974 học viên; năm 1958 chưa có học viên bổ túc văn hoá cấp 3, sang năm 1959 có 696 học viên bổ túc văn hoá  cấp 3.          

Bộ đội biên phòng ở Quế Phong tham gia dạy BTVH (1967)

         Ở nông thôn, bổ túc văn hoá phần lớn mới có các lớp đầu cấp 1: năm 1957 có 26.277 học viên cấp 1; năm 1958 có 44.755 học viên, năm1959 có 86.340 học viên. Bắt đầu từ năm 1959, mở một trường bổ túc văn hoá tập trung, việc thực hiện công tác bổ túc văn hoá có hiệu quả hơn.

          Năm 1951, mở Trường Phổ thông Lao động Trung ương chung cho các tỉnh Liên khu IV, sau đó có Trường Phổ thông Lao động của Khu 4. Năm 1954, Trường về Vinh, đặt tại địa điểm hiện nay là cơ quan của Sở Giáo dục và Đào tạo và Công an thành phố Vinh. Loại trường này có nhiệm vụ dạy kiến thức phổ thông cho người lao động. Đến 1957, Liên khu IV giải thể, Trường này chuyển thành Trường Phổ thông Lao động tỉnh Nghệ An. Cán bộ lãnh đạo chủ trì của các ngành và của các huyện được về Trường này học văn hoá, nhưng khả năng đào tạo của Trường mới có các lớp cấp 2.

          Đại hội Đảng lần thứ 3 (1960), trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương xác định: “Công tác giáo dục văn hoá phải được phát triển theo quy mô lớn”; “Về giáo dục, trước mắt cần coi nhiệm vụ bổ túc văn hoá là nhiệm vụ hàng đầu, nhằm đặt cơ sở đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng và chính trị trong nhân dân lao động, xúc tiến công tác đào tạo cán bộ kinh tế và văn hoá và mở rộng công tác phổ biến khoa học và kỹ thuật”. Kế hoạch bổ túc văn hoá 1960-1965 có mục tiêu: nâng trình độ văn hoá của đối tuợng 1 (cán bộ lãnh đạo) hết cấp 2, đối tượng 2 (đoàn viên, đảng viên)  hết cấp 1, đối tượng 3 (nhân dân) hết lớp 2. Hệ thống trường bổ túc văn hóa thời gian này gồm các lớp bổ túc văn hoá ở hợp tác xã, các trường miền, trường cụm (chung một số xã), trường ngành, trường cơ quan, công, nông trường, xí nghiệp...

          Nội dung học tập văn hoá gắn với học kỹ thuật. Trong các năm 1960, 1961, có phương châm “cần gì học nấy”. Đội ngũ giáo viên bổ túc văn hoá thời gian này gồm 3 thành phần: giáo viên chuyên trách, giáo viên nghiệp dư và giáo viên phổ thông. Quản lý các trường, lớp bổ túc văn hoá bao gồm cả chính quyền, công đoàn, hợp tác xã và giáo viên chuyên trách.

          Phong trào bổ túc văn hoá của Nghệ An được xếp vào loại một, trong số vài ba tỉnh, thành khá nhất toàn miền Bắc. Trong đó đặc biệt nổi bật là phong trào của các đơn vị, cơ quan, công, nông, lâm trường. Ở Vinh, mạng lưới lớp học bổ túc văn hoá rải khắp trên địa bàn thành phố, có Trường Cấp 3 Bổ túc văn hoá Vinh; ở các huyện có Trường Bổ túc văn hoá liên cơ, vừa có học viên cấp 2, vừa có cấp 3, tiêu biểu là các trường ở Đô Lương, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Tương Dương; ở nông trường: Nghệ An có 3 nông trường thuộc tỉnh, 7 nông trường thuộc Trung ương. Nông trường nào cũng tổ chức cho cán bộ, công nhân học bổ túc văn hoá; ở lâm trường: chủ yếu là các lớp học cấp 1, đã có lớp học cấp 2. Điển hình là các lâm trường: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Châu. Ở nông thôn có các trường miền, trường cụm.

Lãnh đạo Ty Giáo dục Nghệ An thăm lớp BTVH ba đảm đang của HUYỆN Yên Thành (1967)

          Năm học 1960-1961, bắt đầu mở Trường Bổ túc Công Nông của tỉnh, học chương trình bổ túc văn hoá cấp 3, lưu lượng từ 150-200 học viên. Ở miền núi, các trường thanh niên dân tộc tiếp tục phát huy tác dụng (loại trường này phát triển mạnh từ 1958 đến 1965).

          Giai đoạn 1964-1975, Mỹ đánh phá miền Bắc, ngành học bổ túc văn hoá phải thích ứng với hoàn cảnh chiến tranh. Chỉ thị số 97 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 18-5-1965 nêu rõ: công tác học bổ túc văn hoá phải được đặt ra cấp thiết hơn trước và phải bước vào một thời kỳ phát triển mới. Triển khai Chỉ thị 97, Tỉnh uỷ Nghệ An có Chỉ thị 01. Việc đầu tiên là phấn  đấu hoàn thành kế hoạch học bổ túc văn hoá 5 năm lần thứ Nhất. Mục tiêu là: đối tượng 1, 2 (cán bộ và thanh niên) hết cấp 1, trong đó 25% học cấp 2, đối tượng 3 (xã viên, công nhân) hết lớp 2, trong đó một số hết lớp 3. Giai đoạn này, Ty đã chỉ đạo các trường phổ thông thực hiện vai trò một hội đồng 2 nhiệm vụ.

          Kết quả: 97,9% xã, 96% số đối tượng, 100% cơ quan hoàn thành kế hoạch. Ngành thuỷ sản là lá cờ đầu khối cơ quan cấp tỉnh; ngành kiến trúc là lá cờ đầu khối công trường; Tổng đội Thanh niên xung phong là lá cờ đầu khối thanh niên xung phong; Nông trường Sông Con là lá cờ đầu khối nông trường; Nhà máy Gỗ Vinh là lá cờ đầu khối xí nghiệp.

          Với thành tích nói trên, Nhà nước đã tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho ngành học bổ túc văn hoá Nghệ An và xã Thông Thụ. Cũng trong năm 1966 này, huyện Quế Phong được Bác Hồ gửi thư khen về sản xuất giỏi, học tập giỏi.

          Trong các năm 1966, 1967, 1968, ngành học bổ túc văn hoá tiếp tục phát huy tốt những thành quả trên và xuất hiện nhiều điển hình như các xã: Diễn Minh, Quỳnh Đôi, Ngọc Sơn (Đô Lương), Nghi Thu, Hậu Thành, Phú Thành, Cát Văn, Hưng Thái, Châu Hội, Thông Thụ, Nghi Thạch, Nông trường 1-5, Nông trường 3-2… Trong bức thư khen Đội Thanh niên xung phong số 333 tỉnh Nghệ An ngày 27-1-1969, có đoạn Bác khen: “Các cháu đã chăm học chính trị, văn hoá và làm văn nghệ khá”. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên nói với đồng bào Diễn Kỷ: “Tôi sang Liên Xô, người ta hỏi tôi tại sao lại đội bom mà đi học được, mà đi dạy được. Thật là khó hiểu”.

          Tháng 9 năm 1971, Nghệ An đã thành lập Trường Thanh niên lao động Xã hội chủ nghĩa Sông Con (đặt ở Tân Kỳ). Cũng năm này, các Trường Thanh niên dân tộc ở các huyện miền núi và Trường Bổ túc Công Nông Nghệ An giải thể; số học sinh ở những trường này chưa tốt nghiệp (cấp 2 và cấp 3) được chuyển về học tiếp tại Trường Thanh niên lao động Xã hội chủ nghĩa Sông Con.

Vừa dạy phổ thông, các thầy cô giáo xã Nghi Hương (huyện Nghi Lộc, nay là thị xã Cửa Lò còn hăng say với việc dạy BTVH dù không có thêm một đồng phụ cấp nào (1967)

          Kết thúc chặng phát triển bổ túc văn hoá này (1964-1975), trình độ văn hoá của các loạ115. Vừa dạy phổ thông, các thầy cô giáo xã Nghi Hương còn hăng say với việc dạy BTVH dù không có thêm một đồng phụ cấp nào (1967)i đối tuợng cụ thể như sau: Nghệ An có 50 xã hoàn thành phổ cập trình độ văn hoá cấp 1 cho nhân dân; trình độ văn hoá của đối tượng 1: hết lớp 4 trở lên 70%, hết cấp 2 trở lên 55%; trình độ văn hoá của đối tượng 2: hết lớp 4 trở lên 72%, hết cấp 2 trở lên 50%; trình độ văn hoá của đối tượng 3: hết lớp 3 trở lên 80%, hết cấp 2 trở lên 15%. Ở miền núi, trình độ văn hoá của cán bộ như sau: 50% cán bộ xã có trình độ văn hoá cấp 1 trở lên, 36% có trình độ văn hoá cấp 2 trở lên; 85% cán bộ huyện có trình độ văn hóa cấp 1 trở lên, 60% có trình độ văn hoá cấp 2 trở lên.

          Các số liệu trên ghi lại một cái mốc quan trọng về trình độ văn hoá của nhân dân, cán bộ Nghệ An. Từ cái mốc này mà Nghệ An đi lên trong thời gian tiếp theo - thời gian từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Phạm Huy Đức