A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Truyền thống khoa bảng Nghệ An (Mong các sĩ tử tiếp bước cha ông làm rạng danh đất học Nghệ An)

Nghệ An là vùng đất "địa linh nhân kiệt", người xứ Nghệ tuy có cuộc sống khó khăn song nổi tiếng hiếu học. Thời đại nào, xứ Nghệ cũng có người đỗ đạt cao, đem tài ra giúp dân, giúp nước.

Văn miếu tỉnh Nghệ An được làm vào thời Nguyễn Gia Long (1803) có đôi câu đối nổi tiếng, biểu thị nền văn hiến và sĩ khí của nhân dân xứ Nghệ như sau:

Hoan Châu văn khí thiên niên trụ

Học đạo chính tâm vạn cổ truyền.

(Hoan Châu văn khí ngàn năm vững;

Học đạo chính tâm muôn thuở còn).

Hoan Châu - xứ Nghệ (Nghệ An - Hà Tĩnh) được người xưa coi là vùng đất "Địa linh nhân kiệt"; là đất có khí thiêng sông núi và sinh ra nhiều hào kiệt, Phan Huy Chú đã có nhận xét:

"Nghệ An núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam Châu. Người thì thuận hòa mà chăm học... được khí tốt của sông núi, nên sinh ra nhiều bậc danh hiền"

(Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú).

Cùng với lịch sử phát triển của Nho học Việt Nam (1075 - 1919), thì truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và khoa bảng của người Nghệ An cũng luôn được nuôi dưỡng và phát huy. Các bà mẹ ở xứ Nghệ đã có ý thức chăm lo việc đèn sách cho con ngay từ khi chúng mới được sinh ra, khi còn bú ẵm, nằm nôi, qua những lời ru:

Con ơi mẹ dạy con này,

Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm người đói sạch, rách thơm

Công danh là nợ nước non phải đền.

Mảnh đất Nghệ An tuy giàu tiềm năng về kinh tế, nhưng hết sức khó khăn về khí hậu, thiên tai. Con người Nghệ An phải vươn lên trong cuộc sống, nên nổi tiếng chăm lao động, chiến đấu giỏi, hiếu học... 

Đa số Nho sĩ xưa đều rất nghèo, có không ít "ông Nghè, ông Cống sống bởi ngọn khoai; anh học, anh nho nhai hoài lộc đỗ". Có gia đình ăn cháo, ăn khoai ngày ba bữa, mà cả nhà ông cháu, cha con đều thi đậu" "Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, ngày ba bữa; Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà". Học trò xứ Nghệ xưa đều phải vượt khó, ăn sắn, ăn khoai, ăn ngô trừ bữa, ngày làm đêm học, nên thường lấy sự kiên nhẫn tạo ra thành quả trong học tập. Nhiều học trò phải học dưới ánh trăng, học trên lưng trâu, đốt lá cây để đọc sách, dùng mo cau thay giấy, bút là cành cây viết chữ trên đất... Có thầy không có nhà để mở lớp, học trò đông, phải đưa trò lên núi học ngay ở ngoài trời, viết chữ lên đá... Thế mà, thầy nổi tiếng dạy hay, trò nổi tiếng học giỏi, đậu cao. Họ phải phấn đấu trong học tập, bằng tính kiên trì, nhẫn nại, cần kiệm... 

Về nội dung học tập thì học trò xứ Nghệ thường không chuộng "hoa mỹ" mà cốt "văn hùng" lúc đi thi, làm bài cũng thế. Nếp sống trong học tập của học trò xứ Nghệ có thể gọi là "khổ học", đã trở thành một nét thuộc bản sắc truyền thống văn hóa địa phương. Niềm khát vọng vươn lên trong khoa bảng của người dân xứ Nghệ rất mãnh liệt. Hình ảnh ông Nghè "vinh quy bái tổ", "võng anh đi trước, võng nàng theo sau", là ước mơ cháy bỏng của các sĩ tử, của cha mẹ và vợ con họ. Hình ảnh "văn phòng tứ bảo" (bút, giấy, nghiên, mực...) cùng với bảng vàng, bảng hổ đề danh... in đậm trong tiềm thức người dân và được tái hiện, nhập hồn vào núi, ao, cồn, doi, quê hương xứ sở. 

Nhà văn hóa Đặng Thai Mai đã có nhận xét tinh tế rằng: "Khi mà chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ mỗi một làng đều nhìn thấy trong mắt của mình một cái bảng, một quản bút, một án thự.." Nhiều địa danh quen thuộc như thế và được coi là rất nổi tiếng đã có ở khắp nơi trên đất Nghệ An. Huyện Diễn Châu có: Nho Lâm, Bút Điền, Bút Trận, Văn Hiến, Văn Vật, Thủ Phủ. Huyện Quỳnh Lưu có: Bút Luyện, Văn Thái, Văn Khúc, Tam Khôi. Huyện Đô Lương có: Văn Khuê, Văn Trường, Văn Lâm. Huyện Nam Đàn có: Khoa Cử, Khoa Trường. Huyện Yên Thành có: Văn Hội, Định Khoa. Huyện Anh Sơn có Mực Điền. Thị xã Cửa Lò có: Hòn Mực, Núi Bảng... chính vì thế, mà truyền thống học hành, đua nhau chiếm bảng rất được coi trọng ở xứ Nghệ. Các địa phương có nhiều người đậu bảng, lại càng thêm tự hào. Làng Quỳnh Đôi có câu:

Làng ta khoa bảng thật nhiều

Như cây trên núi, như diều trên không

Theo Khoa bảng danh trường biên của Hồ Sĩ Tôn, từ 1444 đến 1725, Quỳnh Đôi có hơn 700 người đậu từ tú tài đến tiến sĩ. Cả huyện Quỳnh Lưu, tính từ thời Hậu Lê có 15 tiến sĩ, thì trong đó Quỳnh Đôi chiếm 12 vị. Việc học ở đây đã như trở thành một nghề truyền thống và được mệnh danh và "Làng học Quỳnh Đôi". Làng học nổi tiếng có nhiều người học giỏi, đậu cao, có gia đình liên tiếp nhiều đời thi đậu thủ khoa, đã đi vào ca dao xứ Nghệ:

Đô Lương dệt gấm thêu hoa

Quỳnh Đôi tơ lụa, thủ khoa ba đời.

Nhân dân ở đây rất coi trọng việc học, nên khoán ước của làng quy định rất cụ thể nhằm cổ vũ về việc học, thi cử, đậu đạt, khao thưởng, đón rước người vinh quy bái tổ...

Rất nhiều làng xã khác ở Nghệ An cũng rất nổi tiếng về học hành, khoa bảng, như: Trung Cần, Xuân Liễu, Xuân Hồ (Nam Đàn); Kim Khê, Đông Hải (Nghi Lộc); Võ Liệt, Đồng Văn, Đại Định (Thanh Chương); Lý Trai, Như Lâm (Diễn Châu); Quang Trung, Vân Tụ (Yên Thành); Văn Trường (Đô Lương),v.v.

Những làng, xã nổi tiếng về khoa bảng đều có xây nền văn từ để tôn thờ đạo Nho và dựng bia khắc tên những người thi đậu. Tống Võ Liệt có 6 bia ghi tên 377 người đỗ tú tài, 63 người đỗ hương cống - cử nhân, hai người đỗ tiến sĩ và hai người đỗ phó bảng. Làng Vân Tập, tổng Thái Xá, huyện Diễn Châu có ghi tên một vị đại khoa, ba vị Hương tiến, 14 vị Hiệu sinh. Sinh đồ, Tú tài... Bia văn từ huyện Nam Đàn do Hoàng giáp Bùi Dương Lịch soạn năm Gia Long 17 (1818) có đoạn như sau;

"Từ Vũ huyện ta lại ở vào nơi rất đẹp đẽ có núi Hùng Lĩnh, Sông Lam nổi tiếng của Nghệ An. Từ khi có nhân văn đến nay, thi Hội, thi Hương, có nhân tài nối tiếp. Tuy từng đời có thay đổi nhưng dòng tư văn trước sau không dứt...".

Nhân dân còn lập miếu tôn thờ các ông Nghè, ông Cống khai khoa cho làng xã, có công với nước làm ông Tổ, làm Thành hoàng làng và Phúc thần, như Ngô Trí Hòa ở Diễn Kỷ, Phan Kim Vỹ ở Thanh Giang, Bùi Hữu Nhẫm ở Thanh Thủy... Trạng nguyên Bạch Liêu ở Mã Thành, Yên Thành được Hội tư văn của huyện Đông Thành lập đàn thờ ở trên núi Đông Sơn. Hằng năm, đến ngày giỗ ông, con cháu và các sĩ tử của huyện đều tới giỗ ông - một vị "Thủy tổ khai khoa" - ở đây có đôi câu đối ca ngợi đức sáng của ông:

Sinh tiền bật dĩ Đông A đế,

Mật hậu năng vi Nguyễn Xá thần

(Sống không nhận quan tước của vua Trần;

Chết mong làm phúc thần cho dân Nguyễn Xá).

Trạng nguyên Bạch Liêu là niềm vinh dự lớn cho quê hương, xứ sở, nên nhân dân ghi nhớ và lưu truyền công trạng của ông mãi mãi:

Trạng nguyên đệ nhất tam khôi

Nhất danh, nhất giáp, đầu ngôi bảng vàng.

Mũ rồng, áo tía vua ban

Lọng xanh đi trước, lọng vàng đi sau...

Những người học giỏi, có tài văn học, còn được nhân dân tôn sùng gọi là "Tứ lân", "Tứ hổ"... Huyện Nam Đàn có "Tứ hổ" là: San, Đôn, Lương, Quý (tức là: Phan Văn San, Lê Bá Đôn, Trần Văn Lương, Vương Thúc Quý) đều đậu cử nhân. Riêng San (Phan Bội Châu) đậu Giải nguyên. Một lần họ rủ nhau đi hát phường vải ở xã Nam Kim, bị bên gái vặn hỏi:

Bốn chàng quê quán ở đâu?

Xin tường danh tính để sau khuyên mời.

Phan Văn San đã nhanh nhẹn thay mặt các bạn trả lời rằng:

Nam Đàn tứ hổ là đây

San, Đôn, Lương, Quý một bầy bốn anh.

Họ Hồ có bốn nhà nổi tiếng học giỏi, đỗ cao và có văn học: Hồ Sĩ Dương, Hồ Phi Tích, Hồ Sĩ Đống, Hồ Sĩ Tôn, được xếp vào "Tứ Hồ tự cổ chiếm văn minh" (bốn nhà đều xứng là đại gia đình văn chương của họ Hồ).

Việc học tập của người dân xứ Nghệ xưa có thể nói là rất phổ cập và hoàn toàn do gia đình tự lo liệu. Một gia đình không đến nỗi đứt bữa, không lo điều gì hơn là cấp cho con dăm ba chữ để có thể thờ cúng tổ tiên, ông bà, có thể đọc được gia phả, biết được cách cư xử đối với anh em, họ hàng và làng xóm. Gia đình nào khá giả thì có thể mời một ông thầy đồ về nhà mình để dạy cho con cháu trong nhà; hoặc nhiều gia đình hợp tác mời thầy về dạy học con em trong xóm, trong làng.

Đây là mầm mống của các trường tư. Nghệ An có rất nhiều trường và có nhiều thầy dạy giỏi nổi tiếng, có thể kể: Dương Tồn, Hồ Sĩ Dương, Hồ Sĩ Đống, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Thức Tự, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Năng Trình, Vương Thúc Quý, Nguyễn Nguyên Thành, Trần Đình Phong, Đặng Văn Thụy, Hoàng Mậu, Đặng Nguyên Cẩn,v.v.

Thầy Nguyễn Thức Tự ở làng Đông Chử xã Thịnh Trường, huyện Nghi Lộc, được các sĩ phu ở xứ Nghệ đánh giá là bậc thầy về kinh sử và nhân cách. Học trò của thầy là các nhà khoa bảng rất nổi tiếng, như: Đinh Văn Chấp, Nguyễn Đức Lý, Hoàng Kiêm, Nguyễn Mai, Ngô Đức Kế, Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Thúc Dinh, Đặng Nguyên Cẩn... Ngay khi thầy còn đang sống, các sĩ phu và học trò của thầy đã quyên góp tiền của để xây nhà thờ và xây lăng cho thầy. Ngày thầy mất, Phan Bội Châu đang sống ở nước ngoài đã làm bài văn điếu gửi về kính viếng thầy, trong đó có những câu như sau:

Đạo thông thiên địa

Học bác cổ kim

Kinh sư dĩ đắc

Nhân sư nan tầm

(Đạo thông cả trời đất,

Học rộng khắp xưa nay;

Thầy dạy chữ dễ gặp;

Thầy dạy làm người khó tìm)

Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo chính là môi trường tốt nhất tạo nên ý chí cho lớp sĩ tử Nghệ An vươn lên dành những vị trí cao nhất trong các khoa thi Hương, thi Hội. Ngoài Trại trạng nguyên Bạch Liêu, Nghệ An còn có ba cha con Hồ Tông Thốc, Hồ Tông Đốn, Hồ Tông Thành đều đậu Trạng nguyên đời Trần.

Một nhà ba Trạng nguyên ngồi

Một gương từ mẫu cho đời soi chung.

Có sĩ tử trong một năm đậu luôn hai khoa thi Tiến sĩ và Đông các, một năm được hai lần vinh quy, như Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Đình Cổn. Có khoa thi lấy đậu năm đệ nhất giáp, thì Nghệ An chiếm hai: Đinh Bạt Tụy, Phan Tất Thông (Đinh Bạt Tụy đậu Đình nguyên). Nhiều sĩ tử đậu đầu hai khoa thi (song nguyên) như: Hồ Sĩ Đống, Nguyễn Ngọc, Nguyễn Đức Quý, Vương Hữu Phu (Hội nguyên - Đình nguyên); Nguyễn Hữu Lập, Nguyễn Văn Giao (Giải nguyên - Đình nguyên); Cao Quýnh, Phạm Nguyễn Du (Giải nguyên - Hội nguyên)... Đặc biệt có khoa thi Tiến sĩ, cả nước chọn được ba, thì Nghệ An chiếm hai, lại là hai cha con: Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa. Có khoa thi Tiến sĩ chỉ lấy đậu hai đệ nhất giáp Thám hoa, thì cả hai cùng ở một tổng (Nam Kim, Nam Đàn) là Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Văn Giao. Sau ngày vinh quy bái tổ, Nguyễn Đức Đạt qua thăm nhà Thám giao, thấy nhà chỗ nào cũng có đậu (đậu mới thu hoạch), liền ra vế đối:

Trong nhà đậu, ngoài sân đậu, cha thi đậu, con học đậu, thi vân: đa đậu thử chi vị dã

Nguyễn Văn Giao nhìn ra ngoài sân, thấy hàng dâm bụt đang trổ nhiều hoa, liền đối lại:

Trên cây hoa, dưới gốc hoa, bái vinh hoa, tôi Thám hoa, thi viết: trùng hoa bất diệt ghi hồ

Nghệ An còn nổi tiếng là cái nôi sinh ra nhiều nhà khoa bảng cho cả nước. Trường thi Hương Nghệ An được lập từ đời Lê Thái Tông (1438), nổi tiếng là nơi để nhà nước quân chủ lựa chọn nhân tài. Riêng triều Nguyễn, Trường tổ chức được 42 khoa thi, lấy đậu 882 Cử nhân, trong đó có 595 người Nghệ An. So với cả nước, triều Nguyễn lấy đậu 5.232 Cử nhân, thì tỷ lệ Cử nhân người Nghệ An cũng chiếm cao nhất so với các tỉnh khác (595/5.232 = 11,4%). Hiện nay, những người biên soạn cuốn sách Khoa bảng Nghệ An đã lập được danh mục tổng cộng 1.164 vị trong đó có 190 Tiến sĩ và Phó bảng (45 Phó bảng), 145 Hội thí trúng Tam trường, Nhị trường, 318 Hương cống triều Lê, 595 Cử nhân triều Nguyễn.

Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của nhân dân Nghệ An còn được tiếp tục và phát huy cho mãi đến ngày nay. Nhiều lớp thầy trò xứ Nghệ đã nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới, trở thành các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học nổi tiếng trong nước và thế giới như: Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Cảnh Toàn, Hoàng Đình Cầu, Đào Vọng Đức, Nguyễn Thị Thiều Hoa, Trần Tuấn Hiệp, v.v. và nhiều nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, nhiều nhà nghiên cứu thuộc đủ các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác.

[PT] sưu tầm